> . <




Bấm nút "Download Now"
để cài Windows Media Player. 
Windows Media Player 11
Download Now

Windows Media Download Center
 

test blog 2

Wednesday, December 1, 2010

Ngày Xửa, Ngày Xưa


Bài blog vừa rồi nói thật là tôi không ngờ có nhiều người đọc đến vậy. Không những đọc mà có người còn nhín chút thời gian góp ý kiến làm tôi cũng vui lây. Và khen chê gì tôi cũng vui vì tôi nghĩ ít ra những suy nghĩ, cảm nhận của mình cũng có người để ý. Đặc biệt là khi những cảm nhận ấy đến từ những gì thật nhất, gần nhất và đáng nhớ nhất đã xảy ra đối với chính mình.

Như câu chuyện sau đây mà tôi sẽ kể cho các bạn nghe. Và như đã hứa đều là chuyện có thật 100%, không thêm bớt bất kỳ miếng dầu mỡ nào. Mặc dù nó đã xảy ra cách đây đúng 13 năm khi tôi lần đầu tiên trong đời biết thế nào là bị trục xuất ra khỏi… chính đất nước mình.

Nghĩ lại thấy cũng lạ. Chính Bộ Luật quốc tịch Việt Nam quy định là ai sinh ra ở Việt Nam có cha hoặc mẹ là người Việt Nam đều là công dân Việt Nam. Và chỉ có những ai nộp đơn xin từ bỏ quốc tịch Việt Nam và được Chủ tịch Nước ký giấy chấp thuận mới không còn là người Việt Nam.
Thế mà tôi vẫn bị trục xuất ra khỏi Việt Nam. Mặc dù tôi sinh ra ở ngay Đa Kao, Sài Gòn và chưa bao giờ làm đơn xin từ bỏ quốc tịch gốc của mình. Thế mới có chuyện để nói.

Bởi vậy nhiều khi tôi thấy chính mình đây mang danh là luật sư về Việt Nam để làm việc cho một công ty luật danh tiếng của thế giới có văn phòng đặt ngay tại Việt Nam vậy mà mình cũng chẳng hiểu luật Việt Nam đã được áp dụng như thế nào. Cho chính trường hợp mình!

Số là câu chuyện như thế này. Như đã có lần nhắc qua tôi về lại Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1996 để làm việc ở Hà Nội cho một công ty luật lớn có tiếng ở Úc. Ban ngày thì tôi đi làm luật sư. Tối về tôi đạp xe đến khu nhà nuôi dưỡng các trẻ em mồ côi, đánh giày, bán báo của tư nhân có tên là Tổ Bán Báo Xa Mẹ nằm ở gần Phố Quang Trung để dạy tiếng Anh miễn phí cho các em.

Có thể nói quãng thời gian ấy là quãng thời gian đẹp, êm đềm và nên thơ nhất của thời con trai mới lớn khi tôi vừa học xong và tốt nghiệp ra trường. Xa quê hương đã lâu lại có dịp sống một mình ở ngay thủ đô Hà Nội, tôi thấy cái gì cũng lạ, điều gì cũng đáng để tâm học hỏi. Từ chuyện bực mình cái loa suốt ngày lải nhải quyết tâm không đẻ cho đến giọng nói cực kỳ dễ thương của con gái xứ Bắc, không những tôi đã chiêm nghiệm được nhiều điều mà trong khoảng thời gian ấy tôi cũng đã có dịp đi du lịch đến thăm viếng nhiều nơi.

Còn nhớ cứ mỗi tháng thì tôi lại tổ chức mướn cả xe bus để cùng với đám học trò của mình đi tham quan những nơi được gọi là danh lam, thắng cảnh của đất nước. Hôm thì Đền Hùng, Phủ Bà Triệu. Tháng sau cả đám sáu, bảy chục mạng lại cùng nhau vừa chèo thuyền từ Bến Đục đi thăm Chùa Hương vừa hát ngêu ngao:


Thuyền đi qua Bến Đục
Mọi người ngắm nhìn em
Thẹn thùng em không nói
Nam mô a di đà
Nam mô a di đà


Tôi vẫn còn nhớ từng phút, từng giây những lần đi chơi như thế với đám học trò của tôi: Thực, Thành, Sơn, Hoài, Trung… Mỗi tối học xong cả đám thầy lẫn trò lại kéo nhau ra quán bánh cuốn bên vỉa hè kêu cổ gà ăn cho no bụng. Vừa ăn các em lại vừa thực hành: “One chicken neck please. One more chicken neck, teacher”.

Hoặc Thực vừa ngậm cổ gà vừa dạy lại cho tôi bài thơ ăn uống:

Giun xào, đỉa luộc, cóc nấu đông
Chuồn chuồn áp chảo, bọ hung hầm!

Lần cuối gặp các em ở Hà Nội cách đây gần hai năm các em vẫn quen miệng gọi tôi là “Teacher” mặc dù tôi chỉ dạy các em không quá một năm ở Tổ và bây giờ đứa nào cũng đã ra riêng. Nói thật nếu như tôi không bị bắt ở Kiến Sơn, Kiến Thụy gần Đồ Sơn vào tháng 4 năm 1997 thì có lẽ cuộc đời tôi đã rẽ sang một khúc ngoặt khác. Tôi đã không phải rời khỏi Việt Nam trong vòng 48 tiếng đồng hồ để rồi sau đó có dịp sang Philippines tạo dựng một cuộc sống mới cho riêng mình.

Như câu nói chúng ta thường nghe, người tính không bằng trời tính. Nếu không bị trục xuất thì làm sao tôi đã có dịp cùng với những người Việt tỵ nạn ở Phi chia sẻ biết bao ngọt bùi, khóc cười trong suốt 10 năm sau này. Cũng như để sau này số phận đưa đẩy tôi sang định cư ở Mỹ và bây giờ là viết blog cho các bạn cùng xem.

Nhưng mà thôi. Trời cũng đã khuya rồi. Hơn 2 giờ sáng rồi còn gì. Tôi xin tạm dừng đây. Để ngày mai kể tiếp.

Cũng như nhiều người khác có dịp đi làm ở ngoại quốc, thời gian tôi ở Hà Nội cũng là thời gian mà tôi có nhiều bạn bè ngoại quốc đến thăm. Phần vì Việt Nam lúc ấy vừa mới mở cửa nên ai cũng hiếu kỳ muốn ghé qua cho biết. Phần vì tôi thuộc loại người đi đâu cũng có bạn nên tuy ở Hà Nội chưa đến 6 tháng nhưng tôi đã có gần mười đứa bạn ghé thăm, luôn tiện xin ở nhờ để khỏi tốn tiền khách sạn.

Thôi thì đủ mọi thành phần, trai gái từ khắp bốn bể đổ về. Khi thì bạn bè luật sư của tôi ở Úc bay qua thăm viếng. Có lúc tôi lại phải đón tiếp những thằng bạn ở xa tít bên Anh vừa…đạp xe đạp vòng quanh thế giới tới Hà Nội để ghé nhà chơi. Tôi còn nhớ chỉ cần nghe tên những quốc gia mà nó vừa đạp xe qua thôi cũng thấy đủ ớn chứ đừng nói gì phải còng lưng đạp xe xa đến từng ấy.

Người cuối cùng đến thăm tôi trong khoảng thời gian đó là bà Barbara gốc người Canada da trắng lúc đó đang định cư ở Hồng Kông. Tôi gọi “bà” vì Barbara chỉ hơn tôi gần… 50 tuổi đời. Tóc bạc phơ nhưng tinh thần lẫn thể xác của bà lúc ấy vẫn còn rất mạnh khỏe. Tôi quen bà trong một dịp chúng tôi cùng vào trại cấm High Island ở Hồng Kông để dắt các em bé tỵ nạn Việt Nam ra ngoài chơi lúc tôi còn làm việc thiện nguyện ở bên ấy.

Sau này một số em và gia đình bị cưỡng bức hồi hương về Việt Nam nên nhân dịp tôi làm việc ở Hà Nội, bà sẳn một công hai chuyện vừa bay sang thăm tôi, vừa có dịp gặp lại một số em nay đã về ở Kiến Sơn, Kiến Thụy gần Đồ Sơn, Hải Phòng.

Thế là vào một ngày đẹp trời cuối tuần, sau một đêm nghỉ lại nhà tôi ở Hà Nội, bà Barbara và tôi đã cùng nhau bắt xe lửa đến Hải Phòng để gặp lại các em sau gần 4 năm mất liên lạc.

Gặp lại nhau ngay tại ga xe vì tôi có điện thoại báo trước, thấy các em chỉ có 3, 4 năm sau mà đã cao lớn hơn nhiều bà Barbara rất vui và bảo phải chi bà đến sớm hơn để có dịp chia sẻ với các em lúc gia đình vừa mới trở về và còn gặp nhiều bỡ ngỡ trong cuộc sống.

Nhưng mà thôi, như thế này là đã tốt lắm rồi, tôi tiếp lời bà.

Liền sau đó đám nhỏ và một số anh chị tôi cũng từng quen biết trong trại cùng tôi và bà Barbara dắt nhau về quê của họ ở Kiến Sơn cách thành phố Hải Phòng khoảng trên một giờ đi xe. Và cũng như bao cuộc họp mặt khác giữa những người bạn lâu năm không có dịp gặp nhau, chúng tôi đã cùng nhau ôn lại những kỷ niệm ngay tại nhà của họ.

Từ những ngày chúng tôi quen nhau trong trại cấm cho đến những thay đổi lớn lao trong cuộc sống của họ từ khi bị cưỡng bức hồi hương về Việt Nam.

Nhưng vui như thế chúng tôi cũng không quên là ở Việt Nam bất kỳ ai muốn nghỉ lại qua đêm ở nhà người quen cũng phải lên phường khai báo đầy đủ. Và thể theo qui định, chúng tôi đã làm y như thế.

Sáng đến sáng hôm sau nhóm chúng tôi khoảng hai, ba mươi người tụ họp ở nhà một người bạn vẫn còn mải mê dông dài nhắc lại chuyện xưa mãi cho đến khi có hai anh công an phường bước vào, lúc đó chúng tôi mới tạm ngừng nói chuyện để mời họ vào nhà uống nước.

Họ bảo họ đến để tìm hiểu xem tôi và bà Barbara đã quen với những người tỵ nạn trong trường hợp nào và làm thế nào chúng tôi biết để liên lạc xuống thăm những người này.

Tình thật, tôi trả lời tôi và bà Barbara đã quen họ nhân lúc chúng tôi làm việc thiện nguyện trong các trại cấm và từ khi tôi về Việt Nam đi làm thì tôi đã chủ động liên lạc lại.

“À, thì ra là thế”, một anh công an vừa gật đầu vừa trả lời tỏ ý anh hiểu.

“Thế nhưng ai cho phép anh vào các trại cấm để làm việc”, anh kia hỏi tiếp.

“Dạ, không có ai cho phép ạ. Em làm việc thiện nguyện cho một tổ chức phi chính phủ và vì vậy em được tự động vào trại cấm dắt các em ra ngoài chơi”, tôi thành thật trả lời.

“Không cần ai cho phép anh vào à? Thế thì ai cho phép anh sang Hồng Kông làm việc?” cũng cùng anh công an đó tiếp tục chất vấn.

“Dạ, cũng không có ai cho phép ạ. Em nghỉ hè tự động mua vé máy bay sang Hồng Kông làm việc, không phải xin ai ạ”. Vừa trả lời tôi vừa nghĩ thầm trong bụng chả lẽ họ đang muốn làm tiền?

“Anh trả lời như thế mà anh nghĩ chúng tôi tin anh à? Đây xem ra là có vấn đề đấy. Xin mời anh về phường để chúng tôi có thể làm rõ hơn”.

Đến lúc này thì cả hai anh cùng đứng dậy mời tôi và bà Barbara về văn phòng làm việc.

Nói thật đến lúc ấy tôi vẫn nghĩ chắc không có chuyện gì đâu. Họ hỏi điều gì mình trả lời thành thật điều đó thì sẽ xong thôi. Chỉ là họ không hiểu cách thức làm việc ở ngoại quốc, đi đâu không ai cần xin phép, thế thôi, tôi đã tự an ủi mình như vậy.

Nhưng không. Tôi đã lầm. Lầm to là khác. Sau hơn một giờ làm việc ở phường hình như họ vẫn không tin những gì tôi khai là sự thật. Đó là tôi đã không làm việc cho bất cứ tổ chức “phản động” nào hoặc nhận tiền của ai để sang Hồng Kông làm việc thiện nguyện. Tôi cũng chẳng có bất kỳ sự liên hệ mật thiết nào ngoài tình đồng hương thương mến, cảm thông nhau lúc những người Việt tỵ nạn còn bị giam trong các trại cấm ở Hồng Kông.

Chẳng ăn thua. Tôi trả lời đến đâu cũng nghe câu hỏi được lập lại: Anh nói thế mà anh nghĩ chúng tôi tin anh à?

Từ công an phường tôi được giải lên công an Huyện Kiến Thụy. Nhưng sau hơn 4 tiếng đồng hồ cùng với 3 anh công an huyện làm việc cật lực, câu nói cuối cùng tôi nghe vẫn là “đây là có vấn đề”, mặc dù tôi cứ thắc mắc: “Ý anh nói ‘vấn đề’ là vấn đề gì vậy anh?”.

Đôi khi nghĩ lại tôi thấy lúc đó mình ngây thơ thật. Ngây thơ đến độ chính mình đang gặp rắc rối mà cũng không biết đó là rắc rối!
Vì sau gần 6 tiếng bị quần, tôi và bà Barbara đã được chuyển từ huyện lên tỉnh. Bằng một chiếc xe thùng trực chỉ đồn công an thành phố Hải Phòng.

Lúc ấy, chúng tôi đã không được cho biết mình sẽ đi đến đâu hay đã phạm tội gì mà lại bị giữ lâu đến thế. Lẽ ra tối hôm đó chúng tôi phải bắt chuyến xe lửa cuối cùng về lại Hà Nội để hôm sau tôi đi làm. Nhưng lại một lần nữa, người tính không bằng trời tính, tối hôm đó chúng tôi đã được sắp xếp cho ở lại ngay tại nhà nghỉ của…Bộ Công An sau khi toàn bộ giấy tờ bị tịch thu và được thông báo phải…trả sòng phẳng tiền ở trọ (hình như là khoảng 20 đô cho mỗi đêm!).

Thế mới gọi là đáng nhớ phải không bạn? Trên đời này đố bạn tìm được ai vừa bị bắt một cách vô lý, đã vậy còn phải tự mình trả tiền phòng giam giữ cho chính mình!

Như bà Barbara đêm hôm ấy trước khi ngủ bảo tôi: it only happens in Haiphong. Đúng là chuyện chỉ có thể xảy ra ở Hải Phòng. Nhưng lúc ấy cả hai chúng tôi vẫn nghĩ chắc chắn ngày mai sẽ xong chuyện vì những gì mình biết mình đã khai báo thành thật hết rồi.

Nhưng không. Lại một lần nữa chúng tôi đã lầm. Và cũng lại là lầm to. Vì chúng tôi không những bị giam và hỏi cung cả ngày kế tiếp, tiếp nữa, và tiếp nữa…cho đến ngày thứ năm mới được thông báo là quá trình điều tra đã hoàn tất mà ngay sau đó chúng tôi đã được thông báo là chúng tôi phải rời khỏi Việt Nam trong vòng 48 tiếng đồng hồ và mỗi người bị phạt 15 triệu đồng vì – hãy lắng nghe cho kỹ - chúng tôi đã phạm tội…“gặp gỡ người hồi hương không xin phép”!

Trời. Có thiệt không đây trời? Sau 5 ngày làm việc và trả lời thành thật tất cả những gì chúng tôi bị hỏi, từ chuyện công cho đến chuyện tư, từ lý lịch cá nhân cho đến tên và ngày sinh tháng đẻ của ông bà, cha mẹ, anh em, cô dì chú bác lẫn bạn bè … họ vẫn không thấy là họ đã bắt lầm người à? Thế là thế nào?

Tôi nhớ lúc ấy tuy vẫn còn ngây thơ nhưng tôi hăng cãi lắm (cũng có lẽ vì tôi ngây thơ nên mới thích cãi!). Vì vậy sau khi nghe được quyết định chính thức từ một anh công an tên Minh làm việc cho Cục quản lý xuất nhập cảnh đọc xong và hỏi tôi có thắc mắc gì không, tôi đã ngay lập tức có thắc mắc:

“Thưa anh, trong giấy quyết định này anh ghi tội của em là ‘Gặp gỡ người hồi hương không xin phép’ nhưng mà thưa anh trong cả năm vừa qua ở Hà Nội, em đã gặp rất nhiều bạn là người tỵ nạn hồi hương nhưng đâu thấy có vấn đề gì?”

“Ở Hà Nội khác, ở đây khác!” Minh trả lời cụt ngủn.

“Nhưng thưa anh trong giấy quyết định này sau khi ghi là em đã ‘gặp gỡ người hồi hương không xin phép’ sau đó lại mở ngoặc ghi thêm là ‘trực tiếp liên lạc, tổ chức gặp gỡ người hồi hương không xin phép’ thì không đúng như vậy vì tuy là em có trực tiếp liên lạc nhưng tổ chức thì hoàn toàn không”, tôi cố giải thích.

“Thế thì làm cách nào anh hẹn gặp được những người này?” Minh hỏi ngược lại tôi.

“Dạ thì như đã khai em liên lạc bằng điện thoại trước để hẹn nhau gặp ở ga Hải Phòng”. Tôi thành thật trả lời.

“Thì đấy. Đấy là tổ chức đấy!”. Minh bình thản giải thích.

Oh! Thì ra là vậy. Tuy tai tôi nghe nhưng tôi đã không thể nào tin nổi những gì tôi vừa được cho biết.

Trông có vẻ sốt ruột vì quá trình điều tra đã hoàn tất, Minh gặng hỏi tôi lần cuối: Thế anh còn gì thắc mắc nữa không?

Vừa buồn, vừa tức, vừa giận, lúc ấy có lẽ tôi nên can tâm chấp nhận sự thật phủ phàng là mình sẽ bị trục xuất ra khỏi quê hương của mình. Nhưng không, cái máu luật sư trong người nó lại tiếp tục nổi lên muốn tìm ra cho được lẽ phải. Tôi hỏi tiếp và chẳng cần xưng “anh”’, “em” gì nữa:

“Trong quyết định ghi là tôi đã vi phạm hành chính nhưng anh có thể cho tôi biết điều khoản của nghị định nào hay thông tư nào ghi rõ gặp gỡ người hồi hương là vi phạm hành chính không?” Lúc ấy tôi biết chắc là chẳng có điều khoản nào nhắc đến vấn đề này vì chính tôi đã đọc qua đọc lại rất nhiều lần những quy định liên quan đến người nước ngoài qua công việc làm mỗi ngày.

Nhưng một lần nữa tôi lại bị hụt hẫng khi nghe câu trả lời cộc lốc của Minh nay đã gằn xuống: “Nếu anh không còn thắc mắc gì khác thì chúng ta ngưng tại đây. Anh không có quyền chất vấn tôi về những gì đã quyết định”.

Ah! Thì ra là thế.

Đến lúc đó tôi mới hiểu.

Là đối với công an, hỏi vậy nhưng không hẳn là vậy. Ở Việt Nam thấy vậy mà không hẳn là vậy. Nhiều khi nó còn tệ hơn vậy.

Đừng mơ tưởng nếu mình vô tội thì sẽ được xử vô tội. Vì rất có thể không những mình bị xử có tội mà chính mình còn phải trả tiền công giam giữ cho…chính mình!

Vậy mới có chuyện để nói. Về ngày xửa ngày xưa. Cho đến hôm nay vẫn thế.

Không biết các bạn có muốn nghe tiếp chuyện tôi mới bị trục xuất không nhỉ?

Một số bạn đọc trong thời gian vừa qua có viết email hỏi tôi là việc tôi bị trục xuất ra khỏi Việt Nam xảy ra khi nào? Có lẽ các bạn ấy đã đọc blog Ngày Xửa, Ngày Xưa phần 2 của tôi qua một số email forward của bạn bè gửi cho mà không vào trang nhà của đài VOA đọc trực tiếp vì trước đó tôi đã viết phần 1 của blog cho biết rõ về thời gian lẫn không gian của sự việc xảy ra ở Hải Phòng cách đây gần 13 năm trước. Nói chính xác hơn là vào cuối tháng 4 năm 1997 khi tôi đành phải giã từ đám học trò thân yêu ở Tổ Bán Báo Xa Mẹ để quay trở lại Hồng Kông và sau đó là lưu lạc sang Philippines mãi cho đến sau này.

Tôi vẫn còn nhớ rõ ngày tôi ra phi trường Bác Tiến, trưởng tổ, cho cả một xe bus chở đầy đám học trò nghèo mồ côi ra Nội Bài để tiễn tôi đi. Các em khóc, lớn khóc, nhỏ khóc, tôi cũng khóc. Vì thật sự mà nói lúc ấy tôi rất mến các em, rất muốn ở lại để có thể ‘làm một chút gì đó’ cho đất nước, cho dân tộc.

Thế mà…

Nhưng rồi thời gian cũng làm cho tôi nguôi ngoai và may mắn thay, tôi đã nhanh chóng tìm được cho mình một niềm vui khác, lớn hơn và đạt được nhiều thành quả hơn với các anh chị em tỵ nạn ở Philippines nơi tôi đã có dịp trở thành một người luật sư đúng nghĩa.

Bẵng đi một vài năm sau tôi mới quay trở về Việt Nam để thăm ông bà và gia đình (vì ngay sau khi bị trục xuất tôi đã không được cấp chiếu khán cho về mặc dù công ty tôi có cố thử xin nhiều lần nhưng không được). Phần vì bận rộn công việc, phần tôi ngại tốn tiền (vì ai cũng biết về Việt Nam là sẽ tốn rất nhiều tiền!) nên tuy tôi sống ở Philippines gần 10 năm nhưng tôi chỉ về thăm nhà được dăm ba lần. Mặc dù nếu lên máy bay ở Manila thì đọc chưa xong hết tờ báo đã thấy máy bay sắp đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất.

Mãi cho đến sau này khi tôi sang Mỹ vào năm 2005 và cộng tác làm MC cho chương trình Asia thì tôi mới có dịp quay trở lại Việt Nam thường xuyên để phỏng vấn các văn nghệ sĩ. Hoặc làm các đoạn phim tài liệu phóng sự ngắn về những bài hát hay và những nhạc sĩ lừng danh một thời nay đã qua đời như nhạc sĩ Văn Cao, Đoàn Chuẩn – Từ Linh, Trịnh Công Sơn, v.v…

Tôi tự mình đi tìm tài liệu, phỏng vấn, không xin phép ai. Và do cẩn thận trong từng hành động, lời ăn tiếng nói, tôi đã không bị bất cứ một ai tra hỏi hoặc kiểm duyệt. Về lại Mỹ, mỗi khi lên sân khấu tôi thấy sao nói vậy, không thêm, không bớt. Cũng chẳng có ai buộc tôi phải nói thế này, thế nọ. Thành tâm mà nói tôi phải có lời cảm ơn ban giám đốc của chương trình Asia. Và nhân tiện có thể gửi luôn đến các anh công an trực thuộc Cục An Ninh Nội Bộ và Văn Hóa – Tư Tưởng vì trong suốt khoảng thời gian ấy tôi đã hoàn toàn không gặp rắc rối gì (hay chính xác hơn là chưa gặp rắc rối gì) từ mấy ảnh!

Bỗng đùng một cái tôi bị mất việc. Nguyên do cũng chỉ vì tôi không đồng ý với Ban Chấp hành Cộng đồng Người Việt ở Úc buộc tôi phải rút tên không làm MC trong một chương trình văn nghệ được tổ chức ở Úc vào đầu năm 2007 mà trong đó có sự góp mặt của ba nghệ sĩ từ Việt Nam sang, đó là Tấn Beo, Tấn Bo và Lưu Chí Vỹ. Không những tôi không đồng ý, tiếp tục giữ ý định làm MC mà tôi còn tự viết bài cho đăng báo thanh minh, thanh nga về lập trường của tôi.

Lúc ấy tôi nghĩ rất đơn giản. Ba người nghệ sĩ ấy chỉ là những người nghệ sĩ bình thường như tôi, không phải là “cộng sản” hay “cán bộ văn hóa” như một số người chống cộng nhận định. Nói phải có sách, mách phải có chứng. Chừng nào có bằng chứng họ là những người cộng sản, hay chuyên thói hùa theo những chính sách đàn áp của cộng sản thì lúc ấy tôi mới thay đổi ý kiến của tôi. Còn không thì ngay cả khi ba mẹ tôi bắt tôi phải bỏ thì tôi cũng không bỏ (đã bảo tôi là thằng con bất hiếu mà lị!).

Đối với riêng tôi (và tôi nghĩ là rất nhiều người trẻ lớn lên sau này – trong cũng như ngoài nước), chúng tôi may mắn không phải sống với giáo điều và trở thành cực đoan đến độ nhìn đâu cũng thấy cộng sản hay “phản động”. Hơn thế nữa, tôi nghĩ ở hải ngoại nếu chúng ta nhân danh lẽ phải quyết tâm tranh đấu cho sự tự do, công bằng cho cả dân tộc Việt Nam thì điều đầu tiên chúng ta cần phải làm là không tước đoạt sự tự do và công bằng của người khác. Nhất là khi những người đó chính là những người Việt Nam mà chúng ta đang nhân danh tranh đấu.

Nhìn lại sự việc xảy ra cách đây hơn 3 năm trước, sau đó bị cho thôi việc, phải nghe nhiều lời dèm pha, chế giễu để rồi quay về lại Việt Nam làm việc và bị trục xuất thêm một lần nữa tôi thấy rõ là ở đời mấy ai học được chữ ngờ. Nhưng nếu được cho làm lại từ đầu thì tôi cũng sẽ làm y như thế. Vì như câu nói nổi tiếng của Gandhi: you have to be the change you want to see in the world. Chính chúng ta phải là sự thay đổi mà chúng ta muốn thấy trong xã hội.

Oops. Nhưng mà blog từ đầu đến giờ có liên quan gì đến đầu đề: Trịnh Hội v. Công An Việt Nam đâu nhỉ? Lại lạc đề nữa rồi. Chắc là phải đợi đến tập 4 thôi. Xin lỗi các bạn nhiều nha. Vì thằng bé nó đang ré lên đòi sữa.

Thật ra lấy tên mình để đặt tựa đề cho loạt bài blog này thì thấy cũng hơi quá đáng nhưng suy đi nghĩ lại vì hiện tại tôi không thể nào thưa mấy anh công an Việt Nam ra toà vì tội bắt người trái phép thành thử tôi đành phải lấy tựa đề Trịnh Hội v. Công An để coi như lần này mình thưa mấy ảnh ra tòa án nhân dân…trên đài VOA cho đỡ tức!

Sau khi đọc xong loạt bài này tôi mong là tất cả các bạn sẽ công bằng xét xem tôi có đáng bị trục xuất hay không và bên công an đã có đầy đủ bằng chứng để buộc tội tôi không. Dĩ nhiên nhân tiện tôi cũng có lời mời mấy anh công an bên A18 và A25 đã từng quay tôi như dế trong suốt 6 tháng trời ròng rã, nếu muốn, có thể lên tiếng bào chữa cho hành động của mình bằng cách gửi email cho tôi hoitrinh@hotmail.com. Tôi xin thề sẽ tường thuật lại đầy đủ và trung thực.

OK. Bây giờ tôi xin kể tiếp.

Cũng như bao người thất nghiệp khác, sau khi làm show ở Úc về tôi đã phải bắt đầu lên computer làm lại resume để gửi đi mọi nơi xin việc. Việc gì tôi cũng xin. Từ làm manager, làm tin tức cho các đài ở hải ngoại, cho đến việc làm luật sư cho những công ty tư vấn luật của Mỹ, Úc, Hồng Kông… Cũng may là từ lúc ra trường đến giờ tôi chưa bao giờ bị cho ở không nên chỉ vài tuần sau tôi đã được thông báo là tôi được nhận vào làm manager cho công ty kiểm toán lớn hàng đầu thế giới của Anh có tên là Ernst & Young hiện có hai văn phòng ở Hà Nội và Sài Gòn.

Tôi sẽ được nhận vào làm việc ở văn phòng Sài Gòn với hợp đồng đầu tiên là hai năm. Sau đó nếu thích tôi có thể ký gia hạn thêm.

Thật ra lúc ấy tôi chưa có ý định về lại hẳn Việt Nam để sinh sống vì tôi vẫn còn một số công việc riêng tư ở Mỹ, ở Úc chưa giải quyết xong. Nhưng một phần vì bản tính cố hữu thích đi của tôi, phần lớn khác vì tôi muốn tận tai, tận mắt thấy được những thay đổi trong xã hội Việt Nam đúng 10 năm kể từ ngày tôi bị đuổi đi, nên cuối cùng tôi đã quyết định ký hợp đồng trở về.

Tôi thường nghĩ để có thể nhận xét về một xã hội, một đất nước một cách chính xác và đầy đủ, điều kiện đầu tiên và cần thiết nhất là bạn phải sống và thở trong xã hội ấy trong một thời gian dài. Không phải sống và thưởng ngoạn như một du khách. Mà phải hòa đồng cùng với bao người dân khác trong thành phố hối hả với công việc mỗi ngày. Và lo lắng mỗi khi có mưa to (vì con đường Nguyễn Hữu Cảnh nơi tôi ở gần quận 1 sẽ thành sông không thể nào về nhà!).

Thành tâm mà nói những ngày đầu lúc mới trở về tôi rất thích. Vì cái chi cũng lạ nhưng rất gần, tình bằng hữu trong công việc tuy mới quen nhưng rất sâu đậm và tình cảm gia đình bên nội, ngoại luôn quấn quít bên nhau làm cho tôi có cảm giác như tôi vừa mới đi đâu rất xa nay mới được trở về sống bên cạnh những người thân trong ngôi nhà yêu quí mà mình vẫn còn nhớ từng góc cạnh, từng tiếng chào hàng trong khu chợ Bến Thành, hay tiếng bóp kèn xe inh ỏi bất kể là có cần thiết hay không.


Đúng là bực thì có bực đấy. Nóng thì có nóng đấy. Đã vậy còn thấy được bao cảnh trái ngang trong cuộc sống. Nhưng nó vẫn có một cái gì đó rất quen thuộc, rất gần gũi và vì vậy cũng rất dễ làm mình quyến luyến như thể “tình cũ không rủ cũng đến”. Nếu một ngày nào đó, một nhà cầm quyền nào đó ở Việt Nam có đủ sự tự tin để cho những người như tôi trở về để giúp đất nước thì chắc chắn tôi sẽ trở về.

Tôi sẽ trở về mà không cần được đãi ngộ. Tôi cũng không cần họ xem tôi là “khúc ruột ngàn dặm” cần được tạo điều kiện để trở về như đã được lập đi lập lại nhiều lần từ chính cửa miệng của những nhân vật chóp bu trong Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Điều duy nhất mà tôi cần là họ sẽ không làm phiền đến tôi, sẽ không hạch hỏi tôi từ ngày này qua tháng nọ. Và cuối cùng là buộc tôi phải rời khỏi Việt Nam mà không có bất kỳ một quyết định chính thức nào bằng văn bản. Hoặc cho tôi biết tại sao tôi bị cấm không cho xuất cảnh trong suốt khoảng thời gian ấy.

Thế mới tức. Vậy mới có chuyện để tuần sau kể tiếp cho các bạn nghe. Về ngày nãy, ngày nay ở Việt Nam rất dễ thương của chúng ta (nhưng thương hoàn toàn không dễ!).

Sáu tháng đầu sau khi tôi trở về Việt Nam làm việc không có gì đáng nhắc. Sáng 7 giờ thức dậy để 8 giờ có mặt ở văn phòng. Chiều về có khi đến 8, 9 giờ tối tôi mới về đến nhà. Ăn uống, tập thể dục, tắm rửa xong sau đó lên mạng liên lạc với gia đình, bè bạn… thế là hết một ngày. Một ngày sau khi phải học thêm hàng trăm, hàng ngàn thứ khác lạ ở Việt Nam. Từ việc đọc và học tất cả những nghị định, thông tư chính phủ liên quan đến công việc chuyên môn của mình (tương đối dễ) cho đến việc tìm một ngôi nhà tương xứng, vừa túi tiền (hoàn toàn không dễ) và thấy được sự hữu dụng của mình đối với xã hội (hoàn toàn không thể).

Nhưng đổi lại, tôi tìm lại được không khí thân yêu, đùm bọc của hai bên gia đình nội, ngoại và bà con xa gần. Là con trai một, lại là cháu đích tôn trong gia đình, đây là lần đầu tiên tôi có dịp sống gần đại gia đình sau gần 25 năm chia cách. Mười năm trước tôi sống và làm việc ở Hà Nội. Mười năm sau tôi đã có dịp sống gần ông, bà để cuối tuần chủ nhật nào tôi cũng ghé thăm và ôn lại chuyện… ngày xửa, ngày xưa. Kể cả chuyện cái loa yêu cầu không đẻ của mười năm trước!

Với số lương luật sư ngoại quốc được trả tương đối khá hơn so với mức lương trung bình ở Việt Nam, đây cũng là lần đầu tiên trong đời tôi có dịp giúp đỡ bà con trong gia đình mà không cần suy nghĩ nhiều. Vì thật ra họ không cần gì nhiều. Hai, ba trăm đô để giúp cho mấy đứa cháu được tiếp tục đi học. Hoặc cho các cô, các chú mượn tiền không lấy lời để họ có thể làm ăn, buôn bán nuôi sống gia đình. Những việc làm này, tuy nhỏ, rất riêng tư và không liên quan gì đối với chuyện đất, chuyện nước quan trọng hơn nhưng tôi nghĩ nó lại là những hành động thiết thực và có nhiều ý nghĩa đối với đa số thành phần có ăn, có học ở Việt Nam. Kể cả một thành phần nhỏ Việt Kiều về lại Việt Nam để làm việc như tôi.

Không như thế hệ trẻ sau này lớn lên ở hải ngoại, tôi nhận thấy phần lớn các bạn cùng lứa hoặc trẻ hơn ở Việt Nam đều phải phụ giúp cho gia đình, không ít thì nhiều. Nếu không phải phụ giúp cho chính gia đình mình thì cũng là ba, mẹ mình. Hoặc ông, bà, cô, bác, chú, dì, anh em họ… thậm chí đến hàng xóm tôi thấy đôi khi họ cũng phải giúp đỡ. Vì có những hoàn cảnh quá thương tâm, ngặt nghèo. Đấy là chưa kể đến bạn bè và những người không quen biết gì với mình nhưng họ rất cần… tiền của mình.

Vì ở Việt Nam, đồng tiền đóng một vai trò rất quan trọng. Quan trọng hơn nhiều so với ở Mỹ hay ở Úc. Người không có tiền luôn có thể cảm nhận sự thiếu thốn và cần thiết của đồng tiền. Và người có nhiều tiền luôn được đối xử như - và từ đó tự cho mình là - một người rất quan trọng.

Tôi đồng ý là tiền không phải, không nên và không thể là điều quan trọng nhất trong đời. Nó không mang lại hạnh phúc cho mình. Nhưng ở Việt Nam, nếu bạn không có tiền thì coi như bạn không có gì cả. Vào nhà thương nếu không có tiền coi như bạn khỏi mua thuốc. Cũng như sẽ chẳng có ai chịu khám bệnh cho bạn. Tôi đã từng phải nuôi ông cậu ruột của tôi trong bệnh viện nên tôi biết. Nếu không có tiền, ông ấy đã chết từ hồi tôi mới về chứ đừng nói là lấy lại được sức khỏe để sống cho đến ngày hôm nay. Vì các bạn có biết không, ở Việt Nam, người nhà phải nằm trực suốt ngày sáng đêm bên con bệnh đợi đến khi y tá khám thấy cần uống thuốc thì sẽ cho toa để bạn đi mua thuốc. Sau đó bác sĩ mới đến khám và cho uống thuốc!

Nếu bạn không có mặt ở đó, hoặc không có tiền để mua thuốc thì con bệnh kể như đi…. đoong.

Tiền cần là thế.

Tôi còn nhớ vào khoảng đầu năm 2008, đi đâu tôi cũng nghe người ta hỏi nhau: mày có nghe gì không?

Tôi về bên nhà nội cũng nghe mấy cô hỏi:

- Hội, con có nghe gì không?

- Nghe cái gì cô?

- Trời, gạo nó lên mấy bữa nay mà con không biết hả?

- Nó lên bao nhiêu mà cần phải lo cô?

- Trời ơi, hôm qua chỉ có 10 ngàn một ký mà bữa nay nó lên tới 12 ngàn! Gạo mà nó lên kiểu này thì làm sao mà sống nổi!, bà cô tôi vừa than vừa chép miệng lắc đầu thở dài.

Thành thật mà nói lúc tôi vừa mới nghe cô tôi than thì trong đầu tôi liền nghĩ: Có vậy mà cũng lo. Gạo từ 60 cents tăng lên 70 cents một ký, có gì đâu. Đúng là cô có quá dư thì giờ để lo xa. Từ lúc con về Việt Nam đến giờ nói thật gạo bao nhiêu đồng một ký con còn không biết, biết đến chi nó lên những hai ngàn!

Nhưng trên đường về nhà, tôi nghĩ lại mới thấy rõ là mình còn cần học rất nhiều điều. Sống ở Việt Nam nhưng chưa chắc là mình đã biết rõ những gì người dân họ thật sự cần, thật sự lo cho gia đình. Trước khi họ có thể nghĩ đến xã hội và những gì cần phải được thay đổi.

Họ có thể hoàn toàn không thích thể chế hiện tại. Họ cũng không ưa gì chế độ độc tài đầy rẫy những người tham quyền, tham tiền đang ngồi trên đầu họ. Nhưng việc đầu tiên họ cần phải lo là nuôi sống cho gia đình họ, cho con cái họ. Lo sao cho có đủ tiền để trả tiền học cho con. Lo sao cho bữa cơm có thêm thịt, thêm cá. Và sau đó nếu có thể là đủ dư để sắm một cái computer cho cả nhà xài. Hoặc để giúp đỡ người thân. Để phòng thân.

Điều này một phần nào đó giải thích tại sao ít có người trí thức ở Việt Nam dám lên tiếng phản đối mỗi khi có chuyện bất công xảy ra ngay tại nơi họ đang cư ngụ. Nhất là khi nó đụng chạm đến những vấn đề nhạy cảm liên quan đến đất nước vì công an có thể đến hỏi thăm sức khỏe bất cứ lúc nào. Và miếng cơm, manh áo, sức khỏe cá nhân, tình cảm gia đình sẽ bị ảnh hưởng hoàn toàn không có gì bù đắp hay ai san sẻ.

Nhận thức được như thế mới thấy việc tranh đấu cho một đất nước Việt Nam dân chủ, hùng mạnh không phải một sớm một chiều sẽ thành công như ý muốn. Cũng như chúng ta cần phải cảm phục hơn những ai đã dám từ bỏ những ước muốn tầm thường, cơ bản nhất của mỗi người để mong có thể đạt được một lý tưởng chung cao đẹp hơn cho cả dân tộc Việt Nam.

Hôm nay viết đến đây tôi xin tạm dừng. Mặc dù tôi biết là tôi vẫn chưa đả động gì đến chuyện riêng giữa tôi và mấy anh công an nhà ta. Vì xin các bạn hiểu cho, tôi không phải là một nhà văn. Và bài viết này càng không phải là một bài lý luận để trình bày một sự việc cần có trình tự hẳn hoi có đáp án ai đúng, ai sai. Tôi cũng không có ý định bôi bác mấy anh công an đã từng tra khảo tôi. Hoặc để than vãn, kể lể. Tôi nhớ chừng nào thì viết đến chừng ấy. Vừa cho mình để nhớ lại “một thời đã qua”, vừa cho các bạn đọc xa gần thích đọc những chuyện tầm phào mà tôi muốn chia sẻ. Phần lớn tôi viết theo cảm tính. Và cũng vì thế xin các bạn cố thông cảm. Ngày mai tôi sẽ viết tiếp.

Như được nhắc trong bài blog trước, đúng là trong khoảng thời gian 6 tháng đầu ở Việt Nam tôi đã không tìm thấy được sự hữu dụng của mình đối với xã hội.

Tôi đã rất hữu dụng trong công việc chuyên môn. Khá hữu dụng đối với đại gia đình. Nhưng hoàn toàn không cảm thấy một tí mảy may hữu dụng nào đối với những vấn đề hệ trọng của đất nước. Thậm chí những mong ước đóng góp tầm thường vào việc xây dựng một thế hệ luật sư trẻ có đầy đủ sự hiểu biết về luật pháp quốc tế tôi cũng không thực hiện được.

Cũng như các bạn đã biết khi tôi trở về Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1996, tôi đã tự tìm đến Tổ bán báo Xa Mẹ ở gần phố Quang Trung, Hà Nội để dạy tiếng Anh miễn phí mỗi tối cho các em trẻ nghèo mồ côi, bán báo, đánh giày cần biết thêm một tí ngoại ngữ để giao tiếp trong công việc thường ngày với du khách.

Lần này về cũng vậy, tôi muốn đi dạy lại. Nhưng là dạy những luật sư trẻ vừa mới ra trường về luật pháp quốc tế, các phương cách tiếp cận hiện đại thông qua Internet và nếu có thể, dạy luôn một số từ ngữ, cách dùng tiếng Anh trong công việc chuyên môn. Tôi chủ động liên lạc với luật sư Lê Công Định cũng vì lý do này vì lúc ấy Định vẫn còn là phó chủ nhiệm Luật sư đoàn Thành phố.

Nhưng rất tiếc sau một vài lần gặp gỡ, trò chuyện, tuy Định ủng hộ ý kiến tôi đưa ra là mỗi tuần tôi sẽ đến dạy thiện nguyện vài tiếng vào buổi tối sau giờ làm việc, tôi đã được thông báo là Luật sư đoàn không… OK.

Chắc có lẽ họ sợ tôi sẽ không dạy tiếng Anh hay luật pháp quốc tế như lời đề nghị. Mà thay vào đó tôi sẽ dạy về chính trị và kêu gọi mọi người đứng lên lật đổ chế độ? Nếu thế thì rõ là họ hơi quá lo. Vì từ trước đến giờ tôi chưa bao giờ tham gia vào các hoạt động chính trị, cũng chẳng có tham vọng gì về chính trị. Vả lại tôi biết gì về chính trị, có học qua về chính trị bao giờ đâu mà bày đặt dạy người ta? Chính tôi đây cũng tự biết là mình còn rất ngây thơ (nếu không muốn nói là còn hơi… ngu!) khi đụng đến hai chữ chính trị (đặc biệt là chính trị kiểu Việt Nam – trong cũng như ngoài nước) thì… ngu sao mà đi rao giảng điều mình không biết?

Nhưng. Thà bắn lầm còn hơn bỏ sót. Lòng thành của tôi đã bị từ chối. Và điều này hoàn toàn không phải vì mấy anh công an bắt đầu đặt vấn đề về thân thế tôi (chưa tới phiên mấy ảnh!) mà vì chính Luật sư đoàn Thành phố nơi được cho là có tiếng nhất, lớn nhất, có tinh thần công bằng nhất, và mỉa mai thay, tiến bộ nhất trong tất cả các luật sư đoàn ở Việt Nam.

Có lẽ tại vì cái gì nó cũng nhất thành thử bắn lầm hay nhanh chóng gạt bỏ người bạn đồng nghiệp, phó chủ nhiệm của mình khi anh vừa mới bị bắt nó cũng phải đứng nhất!

Thế mới thấy ở Việt Nam sự nghi ngờ nó hiện hữu không phải chỉ ở Bộ Nội vụ, Bộ Công an, v.v… nhìn đâu cũng thấy “mầm mống phản động” mà nó còn tồn đọng ở tất cả mọi cơ quan, ban ngành luôn bị những giáo điều cứng nhắc và Đảng Cộng sản chi phối.

Tôi xin đi dạy miễn phí không được. Xin đi làm MC những lúc rỗi rảnh cũng không xong. Mặc cho biết bao nghệ sĩ trong nghề có máu mặt cố đứng ra xin phép, chạy chọt. Cho đến hôm nay chính tôi cũng không hiểu tại sao họ lại sợ tôi… cầm microphone đến vậy!

Rõ chán. Ở nhà thì chẳng ai sợ mình. Nói đi, nói lại chẳng ai thèm nghe. Nhiều khi còn bị quát lại bảo rằng “biết rồi, khổ lắm, nói mãi!”. Thế mà về Việt Nam lại có biết bao ông kẹ không dám cấp giấy phép cho mình. Mặc dù đó chỉ là cấp một giấy phép tầm thường cho một MC cũng tầm thường trong những chương trình văn nghệ xem ra cũng rất tầm thường.

Các nghệ sĩ hải ngoại, già trẻ lớn bé, ai về cũng được cấp giấy phép. Nhưng Trịnh Hội thì không.

Oái ăm là thế.

Bởi vậy vào một ngày đẹp trời tôi đã đành phải đi… đóng phim. Lúc ấy là vào khoảng đầu năm 2008 khi tôi vừa ăn Tết với gia đình ở Úc xong và về lại Việt Nam để tiếp tục công việc.

Tôi vẫn còn nhớ ngày đầu tiên đi quay ở Công viên Đầm Sen với nữ diễn viên chính Ngọc Lan đóng cặp với tôi. Trời bên ngoài nắng nóng như thiêu đốt nhưng chúng tôi cứ phải quay đi quay lại cảnh hai đứa đạp xe đạp trên hồ vì đạo diễn chưa hài lòng. Mồ hôi nhễ nhại, bao nhiêu makeup đều đã bị cuốn trôi… tôi vừa lên bờ để dung nhan tàn tạ của mình được các chuyên gia chấm phết lại thì bỗng thấy một anh thanh niên tuổi trạc ngoài 30 đến gần tôi hỏi chuyện. Thoạt đầu tôi cứ tưởng anh là một trong những người trong đoàn làm phim vì hôm đó là ngày quay đầu tiên nên tôi chưa biết ai là ai. Anh lại mặc thường phục và tỏ vẻ rất thân mật nên tài tử chính Trịnh Hội đã cảm thấy hoàn toàn thoải mái để tiếp chuyện!

Nhưng hỏi ra tôi mới được cho biết anh là công an đang làm cho văn phòng A25 trực thuộc Cục An ninh Văn hóa -Tư tưởng. Anh bảo anh là người được phái đi theo đoàn mỗi ngày để xem chúng tôi có quay đúng theo kịch bản đã được duyệt hay không.

À. Thì ra là vậy. Mỗi ngày chúng tôi sẽ có công an theo dõi. Làm tài tử, diễn viên cũng cần phải có công an đi theo hộ tống. Cũng lạ đấy chứ nhỉ?

Nhưng thế thì đã sao. Anh hỏi tôi đến đâu, tôi trả lời đến đấy. Không thêm, không bớt. Mà cũng chẳng có gì đáng sợ để cần dặm thêm hay bỏ bớt. Anh lại hỏi tôi với thái độ khá nhẹ nhàng, từ tốn như hai người bạn đang nói chuyện với nhau nên tôi cũng không có cảm giác như mình đang bị điều tra. Anh hỏi tôi đã làm giấy xin phép đóng phim chưa, tôi bảo hình như bên nhà sản xuất đã làm rồi. Anh hỏi tôi về Việt Nam để làm gì tôi bảo tôi về để làm manager cho một công ty ngoại quốc nhưng tình cờ tôi được chọn vào vai Dũng cho bộ phim “14 Ngày Phép” đang quay nên tôi đã xin nghỉ 2 tháng để đóng phim.

Anh gật đầu tỏ vẻ hiểu ý.

Cho đến hôm nay tôi vẫn có thể xác nhận anh công an này (rất tiếc là tôi không thể nhớ tên anh vì sau này tôi gặp phải quá nhiều đồng nghiệp của anh nên không thể nào nhớ hết tên được) là một trong những anh công an “nice” nhất mà tôi đã gặp. Trong lúc trò chuyện tôi không có cảm giác là anh đang lên lớp tôi hay tỏ ý nghi ngờ những gì tôi đang thành thật trả lời. Tôi có cảm giác là anh chỉ đang cố gắng hoàn thành công tác mà anh được giao phó.

Vài ngày sau đó lúc tôi quay một cảnh khác ở sau lưng Chợ Bến Thành thái độ của anh cũng vậy. Rất chừng mực, rõ ràng và không quá câu nệ. Nếu tôi bị bận phải đi quay ngay, anh vẫn nhẫn nại ngồi chờ tôi quay xong mới đến nói chuyện tiếp. Có khác chăng là sau cảnh quay cuối cùng hôm đó trời đã gần sáng. Mọi người trong đoàn ai cũng vội sửa soạn về nhà sau cả một đêm thức trắng làm việc. Tay dắt chiếc xe honda khá cũ kỷ, anh vừa ngồi lên xe vừa nhắn:

“Ngày mai không phải quay xin phiền anh lên văn phòng để sếp tôi có thể làm việc một chút với anh”.

“Ủa, có chuyện gì vậy anh?” Tôi ngạc nhiên hỏi.

“Chắc không có chuyện gì đâu. Chỉ là thủ tục thôi. Về việc cấp giấy phép ấy mà”. Anh trả lời tỏ vẻ không có gì đáng lo lắng.

“Ồ. OK. Để mình xem lại lịch làm việc rồi báo cho anh nha”. Tôi vừa nói vừa vội lên xe của nhà sản xuất để quá giang về nhà.

Và thế là bắt đầu những ngày làm việc… bán chính thức giữa tôi với Bộ Công an Việt Nam. Từ phòng A25 cho đến phòng A18. Từ Cục An ninh Văn hóa - Tư tưởng cho đến Cục Quản lý xuất nhập cảnh và cuối cùng là Cục Phản gián. Cục lớn, cục nhỏ, cục nào tôi cũng phải… bước qua. Có nhiều cục tôi được thông báo tên họ rõ ràng lúc đó nhưng vẫn chẳng hiểu nó là cục gì hoặc làm cái quái gì sau sáu tháng làm việc chung. Có lẽ vì tiếng Việt tôi còn tồi. Nhưng có lẽ cũng vì những cục đó làm những điều mà cho đến hôm nay tôi vẫn không thể hiểu.

Thiệt đúng là kỳ… cục!

Thôi nhé. Tôi xin tạm dừng đây. Để mai mốt chúng ta còn có dịp sống lại với các… cục.

Tôi cho là tôi chỉ làm việc…bán chính thức với Bộ Công an trong suốt 6 tháng ở Việt Nam vì từ đầu cho đến cuối chương trình, tôi hoàn toàn không nhận được một lá thư nào mời tôi về đồn công an làm việc. Hay nay đã điều tra xong, quyết định đuổi tôi đi. Ngày đầu tiên khi tôi đến trình diện ở Cục Quản lý xuất nhập cảnh nằm ngay trên đường Nguyễn Trãi gần Ngã Sáu Phù Đổng Thiên Vương ở Quận 1, tôi có cảm giác như mình chỉ là một trong rất nhiều người phải đến đó để chạy chọt xin giấy tờ đi lại.

Phòng ốc thì nhỏ nhưng đã có hàng trăm người đang đứng đợi từ trong ra đến tận lề đường bên ngoài để làm hồ sơ, xin passport, gia hạn visa, v.v… Thật ra thì ngay từ lúc mới trở về tôi đã phải xin visa loại “business” có hiệu lực trong vòng 1 năm (và nó chỉ cần gia hạn mỗi năm một lần) nhưng việc ấy đã có công ty lo cho nên 6 tháng sau tôi mới có dịp tự mình đi đến nơi mà bất cứ ai ở Sài Gòn cũng đều phải bước qua trước khi được phép xuất cảnh.

Ngồi chờ ở căn phòng nhỏ hẹp ấy, nghe bao tiếng cười nói, phân trần, khi lên giọng, lúc xuống nước năn nỉ, khi ấy tôi mới thấy được cái khổ cực của người dân Việt Nam lúc họ đi làm giấy tờ. Không như ở ngoại quốc việc đâu ra đấy có trình tự đàng hoàng, ở Việt Nam hình như họ không theo một thể thức nào cả. Có người than với tôi ngồi đợi cả tiếng vẫn không thấy được gọi tên. Trong khi đó có người vừa mới bước vào trên tay cầm cả tá hồ sơ vẫn được tiếp nhận như thể anh ta là VIP đang cầm trên tay vé ngồi hạng nhất.

Nhưng mà thôi đấy là chuyện của người. Chuyện mình lo còn chưa xong mắc mớ gì lại…cắc cớ, có phải không?

Tôi vẫn còn đang mãi theo dõi cách làm việc và ứng xử của người dân tại phòng này khi anh bạn công an đã từng làm việc với tôi từ những ngày trước từ bên trong bước ra mời tôi vào phòng họp nằm khuất hẳn phía bên trong. Thì ra khu đất này to thật. Phòng này sát với phòng kia. Bên phải, bên trái và tận ở phía sau đều là phòng ốc xây kiểu xưa từ thời Pháp. Nó nhìn tuy cũ kỷ nhưng rất kiên cố. Và tương đối sạch sẽ cũng như hoàn toàn không có vẻ gì ồn ào, bát nháo như ở phía bên ngoài.

Đó là cảm giác đầu tiên của tôi.

Và cảm giác thứ hai của tôi là dễ chịu. Vì may thay tôi được anh bạn công an mời ngay vào một phòng có máy lạnh và ghế nệm sa lông đàng hoàng. Trước khi đi báo cho sếp của anh là tôi đã có mặt, anh còn hỏi tôi có thích uống gì không, nước hay trà, báo hại lúc anh đi rồi tôi cứ thầm nghĩ trong đầu: chả lẽ bây giờ họ lại văn minh đến thế à? Ngày xửa, ngày xưa không những mình bị giam 5 ngày vì một lý do rất là “stupid” mà mình còn phải trả tiền giam cho chính mình. Còn ngày nảy, ngày nay, sau 10 năm vật đổi sao dời, chẳng lẽ họ đã thay đổi?

Chưa kịp tìm được câu trả lời cho chính mình thì tôi thấy từ bên ngoài bước vào một…. cô công an tuổi độ trên 40 mặc bộ đồ công an trông rất oai vệ cùng với một thái độ trông cũng rất ư là… chính thức (ý tôi muốn nói ở đây là “official”). Official từ gương mặt cho đến hành động. Cũng có thể vì tôi từ nhỏ đã bị dị ứng với bộ đồ xanh màu lá cây này của công an nên chỉ cần thoáng nhìn qua màu này là tôi đã thấy oải.

Đã vậy khi cô cất giọng tôi lại nghe được giọng Bắc chính cống sau 75 của cô. Cái giọng mà 10 năm sau tôi vẫn còn nhớ rõ mồn một vì nó rất… khác với giọng Nam của tôi. Hay giọng Bắc 54 của những người Bắc mà tôi đã từng… quen biết!

Nghĩ lại mới thấy mình đúng là thằng kỳ thị. Chưa quen biết gì, chưa nói năng gì mà tôi đã thấy hình như mình không có cảm tình gì mấy đối với người đàn bà đang ngồi trước mặt mình. Mặc dù người này xem ra cũng có khá nhiều quyền uy và hoàn toàn có thể làm khó mình bất cứ lúc nào.

Và đúng như cảm nhận, câu nói đầu tiên của cô không phải là lời chào hỏi, xã giao thông thường mà cô đi thẳng vào lý do cô cần gặp tôi:

”Hôm nay tôi muốn làm việc với anh về việc anh xin phép đóng phim và làm văn nghệ ở Việt Nam”.

“Dạ vâng”. Tôi chẳng biết phải trả lời thế nào cho phải phép nên chỉ có thể thốt ra hai tiếng cụt ngủn như thế.

“Tôi muốn cho anh biết là bên Cục Điện ảnh đã có công văn thông báo cho nhà sản xuất và chúng tôi biết là anh được phép tham gia vào bộ phim 14 Ngày Phép với điều kiện là anh phải chấp hành nghiêm chỉnh mọi quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam”.

“OK”. Lại một lần nữa tôi chẳng biết phải trả lời thế nào cho đúng thủ tục ngoại trừ tiếng “OK”.

“Tôi muốn nói thẳng với anh là chúng tôi rất hoan nghênh việc các nghệ sĩ từ hải ngoại trở về để phục vụ bà con, nhân dân trong nước nhưng ở đâu cũng có luật lệ và quy định rõ ràng. Vì vậy tôi muốn anh hôm nay viết vào bản cam kết này là anh sẽ không tham gia vào bất cứ hoạt động nào nằm chống phá nhà nước Việt Nam”.

“OK!” Tôi cũng chỉ có thể trả lời đến từng ấy.Vì suy cho cùng đối với tôi điều kiện này thật ra cũng không có gì quá đáng. Từ trước đến giờ tôi chưa bao giờ cho những điều tôi làm là chống phá Việt Nam. Lần này tôi quyết định về lại Việt Nam cũng không phải là để chống phá nhà nước. Và làm văn nghệ, đóng phim càng không phải là nơi để tôi… chống phá.

Thế là chỉ trong vòng 5 phút tôi đã thực hiện được yêu cầu của cô công an ngồi trước mặt tôi với gương mặt nay đã có phần dịu lại. Có lẽ vì cô thấy tôi cũng không có vẻ gì… chống phá cho lắm. Tôi lại không tỏ ý phản đối hay chất vấn ngược lại cô. Hoặc có lời nói, hành động gì có thể cho là phách lối (vì xin thú thật có một số người từ hải ngoại về phách lối thật!).

Có lẽ cũng vì vậy mà sau khi đóng tập hồ sơ lại để sang một bên, cô đã bắt đầu hỏi thăm tôi về những chuyện bên lề như ca sĩ nào đang lên, đi show ở hải ngoại được bao nhiêu tiền mỗi lần, và vì sao tôi quyết định về lại Việt Nam, v.v… Tôi nghĩ chắc phải gần một tiếng sau cô mới chịu cho tôi về sau khi tôi đã trả lời tất cả những câu hỏi, công cũng như tư, mà cô đưa ra.

Lúc tôi bước ra cổng, trời đã ngả chiều. Đứng đợi taxi, tôi để ý thấy từng hàng, từng lớp công an, già có, trẻ có, sắp hàng nối đuôi nhau dắt xe ra cổng để hối hả về nhà. Để lại sau lưng việc làm, các nguyên tắc, thủ tục và những bộ đồ đồng phục phản cảm, tôi có cảm giác như họ cũng như tất cả mọi người trong xã hội Việt Nam đang cố hòa nhập vào dòng người để vươn lên, bươn chải trong cuộc sống. Đằng sau những gương mặt lạnh lùng, ở dưới những bộ đồng phục công an đáng ghét đó là những con người Việt Nam rất bình thường với những cảm xúc thật, những nỗi niềm ẩn khuất thật mà có lẽ họ sẽ không thể nào chia sẻ với những người như chúng ta luôn có được sự tự do trong tư tưởng cũng như trong công việc. Chúng ta có thể thành thật với chính mình. Và những người chung quanh mình. Nhưng họ thì không.

Tôi cảm nhận được điều này sau ngày làm việc đầu tiên với Bộ Công an Việt Nam. Đó là họ cũng là người và không đáng sợ như chúng ta tưởng. Họ cũng không tàn nhẫn, kém văn minh như tôi từng được nghe qua. Hay đã từng phải trải qua 10 năm về trước.

Nhưng đó mới chỉ là ngày đâu thôi mà, có phải không? Đi đêm có ngày gặp ma. Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ. Để rồi xem tôi có còn đủ sự nhẫn nại để khỏi…đổ lệ hay không!

Hôm bước ra khỏi Cục quản lý xuất nhập cảnh nằm trên đường Nguyễn Trãi, tình thật mà nói tôi nghĩ thế là xong. Họ chỉ có thể hỏi đến từng ấy và tôi chỉ biết có từng ấy để trả lời. Tôi về Việt Nam làm việc đã được 6 tháng nhưng chưa tham gia vào hội đoàn nào cả, cũng chưa lên tiếng về vấn đề gì thì thiết nghĩ còn chuyện gì để hỏi?

Vậy mà tôi sai. Chỉ vài ngày sau tôi lại được kêu lên tiếp. Nhưng lần này người nói chuyện trên đầu dây điện thoại phía bên kia không phải là anh công an mà tôi đã gặp nhiều lần trên phim trường mà là một người tự xưng là Vũ đang làm việc với Cục. Cũng với giọng nói khá nhẹ nhàng của người Bắc, anh yêu cầu tôi trở lại Cục để làm việc.

Vũ còn khá trẻ. Chắc phải nhỏ hơn tôi vài tuổi. Ngày đầu gặp mặt, Vũ lại không mặc đồng phục nên trông tôi và cậu ta cứ như là hai người bạn đồng hẹn gặp nhau ở… đồn công an để tán dóc. Mà thật ra nếu như nơi đó không phải là đồn công an mà là ở quán bar nào đó, hay nhà của ai đó thì những điều tôi bị hỏi và trả lời đều hoàn toàn có thể là những đề tài để tán dóc!

Vì đầu tiên Vũ hỏi tôi về Việt Nam để làm gì. Và cũng như lần trước tôi đã thành thật trả lời là tôi được chuyển về Việt Nam để làm việc cho công ty. Sau khi viết ra văn bản hẳn hoi, Vũ lại hỏi tiếp ở hải ngoại tôi làm gì, cuộc sống ra sao. Tình thật có sao tôi cũng trả lời y vậy. Tôi ra trường ở Melbourne năm mấy, lên Sydney làm luật sư được bao lâu, qua Hồng Kông làm việc bao nhiêu lần, với ai, sang Philippines trong trường hợp nào, hoạt động ra sao, rồi đến lúc nào tôi mới sang Mỹ, làm MC, v.v… Nói tóm lại tôi đã phải trả lời rất nhiều về thân thế và sự nghiệp của mình mặc dù chính mình cũng chẳng biết sự nghiệp của mình là gì!

Tôi trả lời đến đâu Vũ lại viết xuống đến đấy. Thật ra đầu tiên Vũ bảo chính tay tôi phải viết xuống những điều tôi khai. Nhưng vì tôi chỉ vừa viết vài câu là Vũ đã không hài lòng nên cuối cùng tự Vũ đã phải viết lấy. Tôi thấy hình như cách tôi viết Vũ không thích gì mấy.

Tôi mở đầu biên bản bằng hai chữ ‘Biên Bản’.

Vũ gạch đi bảo tôi đầu tiên phải viết rõ hai hàng: ‘Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam – Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc’.

Oh. Có cần thiết lắm không? Biên bản do chính tôi viết cho Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chứ đâu phải đó là biên bản của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam viết gửi cho tôi vì vậy cần gì phải ghi hai hàng chử chẳng liên quan gì đến tôi?

Vũ không trả lời thẳng cho câu hỏi của tôi mà chỉ bảo tôi cần phải viết y như thế. Một vài hàng sau, Vũ lại phải sửa câu văn của tôi vì Vũ bảo là tôi không được viết thẳng như vậy. Hoặc những chi tiết mà tôi đưa ra không cần thiết (thí dụ như tôi quyết định sang Hồng Kông làm việc vì tôi thích và không cần phải xin phép ai khi quyết định sang Philippines!).

Oh. Thế thì Vũ hỏi tôi để làm gì? Bạn hỏi tôi tại sao tôi sang Hồng Kông thì tôi chỉ có thể trả lời là tôi thích, thế thôi. Đâu còn lý do nào khác. Bạn lại hỏi tôi đã phải xin phép ai khi sang Philippines làm việc thì vì sự thật tôi đã không xin phép ai, tự mình qua đó lập văn phòng, nên tôi đã ghi ra y như thế. Sao bây giờ bạn lại gạch bỏ?

Bôi tới, bôi lui cuối cùng Vũ phải tự viết xuống những điều tôi khai. Và sau khoảng 3, 4 giờ làm việc cùng nhau biên bản đã hoàn tất. Vũ bảo tôi ký tên vào. Chắc cũng phải trên dưới 10 trang. Và tuy cách hành văn hoàn toàn không phải là của tôi cuối cùng tôi cũng đã đồng ý ký tên vào vì suy ra tôi thấy cũng không có gì khác biệt mấy với lời tôi khai. Chỉ có điều có rất nhiều điều tôi khai, giải thích tại sao tôi làm việc này, việc nọ hoàn toàn không được ghi nhận trong biên bản.

‘But that’s OK’, tôi đã tự an ủi mình như vậy trước khi ra về. Một điều nhịn, chín điều lành. Nhất là đối với một thằng như mình đang được các anh công an Việt Nam chiếu cố.

Nhưng điều lành đâu không thấy tới, tôi chỉ thấy ngày nào cũng phải gặp những người…không lành. Hôm thì Vũ với một anh công an trẻ khác cùng điều tra về vấn đề tỵ nạn Philippines. Tôi đã liên lạc với những ai, làm thế nào để tranh đấu cho họ đi định cư. Tôi bảo ở ngoại quốc tôi tự động liên lạc thẳng với các dân biểu, thượng nghị sĩ, từ Úc sang tới Mỹ hoặc Canada. Không cần ai giới thiệu và cũng chẳng cần phải nhờ ai đỡ đầu. Sự thật là thế nhưng có vẻ như họ không tin tôi.

Họ cứ cố gặng hỏi: nhưng anh làm cho tổ chức nào? Ai giới thiệu cho anh đến gặp những người dân biểu? Anh có bằng chứng gì để chứng tỏ là anh không làm việc cho bất cứ tổ chức nào?

Trời! Nếu tôi không làm việc cho bất cứ một ai thì làm sao tôi có bằng chứng để đưa ra? Mình không thể nào có bằng chứng cho một điều chưa từng xảy ra, Vũ hiểu chứ?

Bất cần. Vài hôm sau tôi lại được Vũ gọi lên để tiếp tục điều tra. Và điều tra tiếp. Hôm thì người này. Lần sau đổi hai người khác. Rồi lại khác nữa, khác nữa. Điều trùng hợp duy nhất là họ toàn là người Bắc. Và họ chỉ biết khư khư cố tìm sao ra cho được cái tổ chức ma nào đó mà tôi đang cộng tác chung.

Tuần này sang tuần khác. Tháng này sang tháng khác. Lần đầu tiên trong đời tôi đã có dịp vật lộn cùng một lúc với hai bộ: bộ phim tôi đang đóng và bộ Công an Việt Nam (hai cái bộ này hình như không ăn nhầm gì nhau!). Nếu tối tôi bận đi quay thì ban ngày tôi phải đến trình diện. Nếu cả đoàn phải xuống đến tận Sóc Trăng để quay thì sau khi quay xong tôi phải ngay lập tức trở về Nguyễn Trãi để tiếp tục công việc điều tra chưa hoàn tất.

Buồn cười là thế. Bởi vậy khi nhận được tin tôi đoạt giải nam diễn viên xuất sắc hồi đầu năm, có thể nói tôi mới là người ngạc nhiên nhiều nhất. Vì trong suốt 2 tháng đi quay, không ngày nào là tôi không lo. Ở phim trường tôi được biến thành một Việt Kiều rất ư là bảnh bao lần đầu tiên về Việt Nam quen thân với biết bao cô gái trẻ đẹp. Nhưng vừa nghe hô tiếng ‘Wrap’ xong của đạo diễn là tôi lại phải trở về với thực tại và các cục mà tôi đang cố… nín thở để bước qua.

Nhưng nín hay không nín thì tôi cũng không làm được gì và họ cũng không tha cho tôi. Ngay sau đêm quay cuối cùng tôi đã được gọi lên để gặp sếp của Vũ. Vũ bảo vậy. Và lần này tôi phải đến trình diện ở ngay cổng của Bộ Công an nằm trên đường Nguyễn Văn Cừ, phía bên kia đường Nguyễn Trãi.

Khác với Vũ và những người công an khác, người đàn ông này đã lớn tuổi, mặc đồng phục hẳn hoi và với khẩu súng lục giắt bên hông, ông ta trông có vẻ ‘bậm trợn’ hơn. Không cần những lời chào hỏi xã giao thông thường, ông ta vào thẳng vấn đề và cho là tôi chưa thành thật khai báo.
Ông ta bảo: “Chúng tôi đã biết tất cả những hoạt động của anh, kể cả chức vụ của anh trong tổ chức. Vì vậy tốt nhất là anh cần khai báo đầy đủ, nếu không sẽ có vấn đề.”

What? Hoạt động? Tổ chức? Chức vụ? Có thiệt không đây?

“Xin lỗi anh, anh có thể cho em biết là anh đang nói về vấn đề gì không ạ”, tôi vẫn đang muốn tìm hiểu xem ý ông ta là gì.

“Tôi nói là chúng tôi đã biết hết tất cả những hoạt động của anh và người của các anh đã gửi cho chúng tôi tất cả những bằng chứng kể cả chức vụ quan trọng của anh trong tổ chức”. Ông ta tuyên bố rất chắc chắn.

“Xin lỗi anh, từ lúc bắt đầu làm việc với mấy anh cho đến bây giờ em đã cho mấy anh biết là em chưa bao giờ làm việc cho bất kỳ một tổ chức nào và cũng không có chức vụ gì ngoại trừ tổ chức thiện nguyện VOICE mà em và các bạn lập ra để giúp người tỵ nạn”. Tôi vẫn đang cố gắng nhịn để từ tốn giải thích như nhiều lần trước đó.

Nhưng ông ta thì không. Vừa hùng hổ chụp mũ, vừa nhạo báng tôi, ông ta lên giọng:

“Đã là Ủy viên Trung ương của Đảng Việt Tân rồi thì cần gì phải chối?”
What?!!! Việt Tân? Ủy viên Trung ương? Đầu tôi cứ như bị quay vòng nhưng ngoài mặt tôi vẫn đang cố dùng lý trí để giải thích:

“Xin lỗi anh, anh quy kết em như vậy nhưng anh có bằng chứng gì không?”

Dùng tay phất phất tỏ ý câu tôi hỏi là tầm phào, ông ta phớt lờ và trả lời như ra lệnh:

“Bằng chứng thì chúng tôi đã có đầy đủ. Bây giờ chúng tôi cần anh thành thật khai báo để xem chúng tôi sẽ phải giải quyết trường hợp của anh như thế nào. Thế thôi. Anh không hợp tác thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn”.

“Là những khó khăn gì, anh có thể cho tôi biết được không”, hình như đến lúc ấy tôi đã thật sự tức giận từ lúc nào mà chính tôi cũng chẳng biết.

“Anh đừng thách chúng tôi”, ông ta gằn giọng.

“Tôi không dám thách ai nhưng tôi cũng không thể nào tin được là tôi bị các anh vu khống như thế. Ngay trước mặt tôi mà không cần bất cứ bằng chứng nào. Một lần nữa, tôi có thể khẳng định là tôi chưa bao giờ tham gia vào đảng Việt Tân và tôi cũng chẳng biết ủy viên trung ương là cái quái gì thì thử hỏi làm sao mà tôi không tức”, vừa nói tôi có cảm giác như giọng nói của mình vừa bị nghẹn lại.

Nhưng đối với ông ta hình như thái độ của tôi chẳng có nghĩa lý gì. Ông vẫn tiếp tục vu cáo, lần này lên giọng trịch thượng hơn:

“Anh đừng cãi chầy cãi chối nữa. Anh học cao, hiểu rộng, phải biết lúc nào là cần hợp tác. Đừng quá cứng đầu để rồi mang hậu quả về sau…”

Lời qua, tiếng lại, tôi đã lớn tiếng sẵng giọng hồi nào chẳng hay. Đưa tay chỉ vào khẩu súng đang nằm trên lưng của ông ta, tôi nhìn thẳng vào mặt ông nói rõ:

“Anh đang có súng trên tay. Anh có thể lên đạn để lên màng tang tôi ngay bây giờ để hỏi xem tôi có phải là đảng viên của đảng Việt Tân hay không. Ngay cả khi anh bảo là anh sẽ bắn nếu tôi chối, tôi cũng sẽ nói tôi không phải là đảng viên của đảng Việt Tân”.

Ngồi đây ghi lại những gì đã xảy ra trong khoảng thời gian ấy, tôi vẫn còn nhớ rất rõ những cảm giác mà mình trải qua trong từng phút, từng giây: buồn có, chán có, lo có…Nhưng cảm giác mạnh nhất, đậm nhất vẫn là sự tức giận. Tức giận vì bị vu khống. Tức giận vì họ đã có thể nói láo một cách trắng trợn mà hoàn toàn không thèm đếm xỉa gì đến sự thật, đến sự chân thành trong từng câu trả lời của tôi.

Tôi nhìn thẳng, trừng trừng vào mắt ông ta, nghiến chặt răng cố đừng để rơi nước mắt thế vậy mà tôi đã thất bại. Hôm trước trên phim trường, cả ngày lẫn đêm tôi đã cố rất nhiều nhưng không thể nào khóc được cho một cảnh quay khi tôi phải nói lời tạm biệt với người yêu. Thế vậy mà hôm nay chỉ sau vài ba giờ với một người công an không ra gì, tôi đã để mình rơi nước mắt.

Thành thật mà nói những gì xảy ra sau đó tôi không còn nhớ rõ. Hình như ngay lập tức ông ta bỏ ra ngoài và Vũ trở lại báo cho tôi biết là tôi có thể về để hôm khác lên làm việc tiếp.

Ngồi vào taxi quay đầu nhìn lại thấy Vũ vừa bước trở vào cổng chính của Bộ Công an, tôi có cảm giác như mình vừa mới từ địa ngục trở về. Và thất vọng. Thất vọng với hiện tại của đất nước Việt Nam. Thất vọng với những người Việt Nam tôi vừa gặp đã không còn là người. Nhưng bao trùm lên tất cả là một sự thất vọng rất lớn đối với chính bản thân mình.

Cho đến hôm nay tôi cũng không hiểu tại sao.

Sau khi để rơi nước mắt trước mặt người công an không ra gì đó tôi thật sự đã thất vọng ở chính tôi vì tôi không ngờ là mình có thể yếu đuối, dễ để lộ cảm xúc đến vậy. Đành rằng ở nhà ai cũng biết tôi là một thằng cực kỳ mít ướt (lúc nhỏ chỉ cần thấy mẹ cầm roi mây lên là tôi đã khóc la oai oải rằng mẹ đánh đau quá!). Nhưng dù gì đi chăng nữa thì tôi cũng đã ngoài 30, hơn cái tuổi tam thập nhi lập của các cụ ngày trước rất nhiều, thế thì cần gì phải mủi lòng đến vậy. Nó vừa không đáng. Lại vừa hơi cải lương lai căng kiểu quân tử Tàu “đây súng đã lên đạn rồi anh cứ bắn tôi đi để tôi có dịp chứng tỏ lòng thành của tôi đối với anh!”. Thế lỡ nó nổi khùng bắn một cái đùng thì sao?

Người chịu lỗ đầu tiên sẽ là mình. Bởi vậy tôi thấy thất vọng ở chính tôi cũng phải!

Nhưng mà thôi. Ngày mai tôi đã có chương trình bay về lại Mỹ để làm show “Dancing with the Stars” lần thứ nhất với trung tâm Thúy Nga và làm MC cho một trung tâm khác. Để từ từ tôi sẽ bàn bạc với gia đình xem mình nên đi hay ở.

Nhưng lại một lần nữa tôi dự tính sai (không biết sao từ ngày về Việt Nam đến giờ tôi tính cái gì cũng trật lất!). Vì sau khi check-in hành lý xong, đến khu vực làm giấy tờ xuất cảnh, tôi đã bị giữ lại và chỉ sau khoảng chừng 30 phút chạy đi chạy lại, anh nhân viên hải quan bảo là tôi… không được xuất cảnh.

“Vì lý do gì thưa anh”, tôi hỏi.

“Điều này tôi không được biết anh ạ”, anh ta thành thật trả lời.

“Thế ai là người đưa ra quyết định vậy anh?” tôi hỏi tiếp.

“Cái này chắc ngày mai anh phải lên Cục hỏi chứ ở đây chúng tôi không biết”.

Thì ra là vậy. Lại phải bước qua mấy cái cục xúi quẩy của các anh công an nhà ta. Rõ là họ vẫn chưa muốn tha cho mình. Nhưng thế thì tại sao hôm qua họ lại không báo thẳng với mình để khỏi phải mất công ra phi trường làm thủ tục?

Từ phi trường Tân Sơn Nhất tôi gọi điện thoại cầm tay hỏi thẳng Vũ như thế.

Đầu tiên Vũ tỏ vẻ ngạc nhiên, bảo tôi đợi từ từ để Vũ hỏi rõ. Nhưng chỉ vài phút sau Vũ đã gọi lại thông báo với tôi là đúng có lệnh như thế từ cấp trên. Thôi thì tôi cứ việc trở về nhà lúc nào cần họ sẽ gọi.

Uhmm. Cũng lý thú đấy chứ nhỉ? Không một quyết định bằng văn bản. Cũng chẳng cần biết luật nào hay ai đã ra lệnh cấm tôi không được rời khỏi Việt Nam, mặc cho tôi có passport của Úc và thẻ xanh của Mỹ. So what? Right? Công an Việt Nam mà. Muốn làm gì chẳng được.

Thế là tôi đành phải quay về nhà và bắt đầu sống một cuộc sống bị quản thúc ngay trên đất nước mình. Người ta thì bị house arrest. Còn tôi thì bị…country arrest! 10 năm trước tự mình phải trả tiền thuê phòng giam cho 5 ngày trước khi bị trục xuất. Mười năm sau tôi cũng phải tự trả tiền thuê nhà để giữ tôi lại.

Thấy cũng “same same”, phải không bạn?

Không show, lại mất dịp được nhảy với cô giáo vũ sư sexy Thùy Vân. Phim cũng đã đóng xong. Tôi trở lại văn phòng làm việc lòng ngổn ngang trăm mối. Bên ngoài thiên hạ đồn rầm là Trịnh Hội đang cặp với con cán bộ gộc ở Hà Nội. Nhưng họ có biết đâu bên trong tôi chỉ cầu mong phải chi đó cũng là chuyện có thật để tôi có dịp…bán thân giúp mình!

Đi không được. Ở cũng không xong. Tôi vào Lãnh sự Quán Úc, Mỹ trình bày sự việc nhưng họ cũng chẳng giúp được gì. Vì tôi đã bị bắt đâu. Họ cũng đâu có tịch thu gì từ tôi đâu mà thưa kiện, có đúng không?

Hơn một lần tôi hỏi Vũ đến khi nào thì tôi mới được xuất cảnh. Vũ bảo Vũ không biết.

Thế thì Vũ biết điều gì? Tôi cố hỏi cho ra lẽ. Nhưng Vũ chỉ lắc đầu bảo nếu tôi chịu hợp tác thú nhận thì quá trình điều tra sẽ sớm được hoàn tất. Thành thật mà nói, Vũ là người công an tôi đã phải làm việc chung nhiều nhất và lâu nhất. Gần đến 6 tháng và trải qua hàng chục, hàng trăm giờ thẩm vấn, hỏi cung khác nhau. Tôi nghĩ có nhiều vấn đề trong cuộc sống gia đình của tôi, những mối quan hệ bạn bè mới cũ của tôi, Vũ còn biết rõ hơn chính tôi! Vậy mà cho đến hôm nay tôi vẫn không thể xác định được Vũ là người xấu hay là người chỉ biết nhắm mắt hoàn thành nhiệm vụ được giao phó.

Có hôm vừa đến phòng làm việc là Vũ đã phán ngay: “Tôi là đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam và tôi sẽ phải làm tất cả để bảo vệ nó!”.

Great. Tôi nghĩ thầm trong đầu. But so what? Ăn nhầm gì tôi?

Thiệt là dzô dziên!

Lại có hôm Vũ tỏ ý có vẻ như muốn làm bạn với tôi, mời tôi đi uống cà phê Highlands nằm ngay góc đường Lê Lợi và Nguyễn Huệ. Ừ. Đi thì đi. Nhưng có tâm sự được điều gì đâu. Những gì tôi muốn nói, tôi đã nói hết. Những gì Vũ cố tình ép buộc, Vũ cũng đã làm. Chúng ta sẽ không bao giờ là bạn. Và tôi cũng chẳng còn mong mỏi gì ở những người Việt Nam như các anh.

Hôm làm việc lần cuối với Vũ sau khi được cho biết là quá trình điều tra đã hoàn tất và có lệnh buộc tôi phải rời khỏi Việt Nam càng sớm càng tốt, tôi nói lời tạm biệt với Vũ như sau:

“Hôm trước đã nói chuyện với cấp trên của Vũ. Hôm nay tôi cũng có từng ấy đôi lời. Đó là cuộc sống này còn dài và một ngày nào đó chắc chắn chúng ta sẽ gặp lại. Tôi luôn có một niềm tin rất mãnh liệt trong đời đó là ai gieo gió, người ấy sẽ gặt bão. Hôm nay tôi mất việc làm, bị đuổi đi nhưng chưa hẳn đó là một mất mát. Hôm nay Vũ và những người công an khác trù dập, vu khống tôi thì sớm muộn gì các bạn cũng sẽ nhận kết quả mà các bạn đã tự tạo”.

Không như cấp trên của Vũ cho là tôi hăm dọa họ, Vũ không nói gì chỉ hỏi tôi khi nào thì về nước. Tôi bảo tôi cũng chưa biết vì vé lần trước không đi đã bị hủy. Tôi phải mua một vé mới khác one way. Vũ bảo chắc là phải one way thôi vì tôi sẽ không được “welcome” ở Việt Nam.

Đó là chữ tiếng Anh mà chính Vũ đã dùng.

Thế là một lần nữa tôi buộc phải xa xứ. Cả thảy là ba lần. “Nhất quá tam” như thằng bạn thân tôi bảo trước lúc chia tay. Lần thứ nhất tôi bị buộc phải xa xứ cùng với gia đình. Nhưng cũng nhờ đó tôi đã được nuôi dưỡng, dạy dỗ trong xã hội Úc đầy nhân ái để ý thức được những giá trị căn bản đạo đức nhất trong cuộc sống.

Lần thứ hai tôi lại bị buộc phải xa xứ nhưng cũng nhờ đó mà tôi có duyên gặp được những người bạn tỵ nạn Việt Nam thân thiết ở Philippines. Họ đã cho tôi có dịp sống và hạnh phúc với lý tưởng của mình trong suốt một thập niên đong đầy những kỷ niệm.

Và mười năm sau, vào cuối tháng 8 năm 2008, tôi đã bị buộc phải xa xứ lần thứ ba. Nhưng cũng nhờ đó mà tôi có dịp đi đó đây, từ Bhutan, Đông Âu cho đến tận châu Phi với muôn vàn biến chuyển. Và cũng nhờ đó mà tôi đã tìm được một niềm hạnh phúc riêng tư mãi mãi cho mình trong một căn nhà mới nay đang tràn ngập tiếng khóc cười của trẻ thơ.

Ai bảo được không phải là mất. Hay ngược lại như trong trường hợp của tôi.

Thế đã nhé. Đêm đã khuya. Tập chuyện “Ngày Nảy, Ngày Nay” đến đây xin ghép lại. Tôi xin thành thật cảm ơn tất cả các bạn đọc đã theo dõi, động viên tôi trong suốt những ngày qua. Tôi viết tập chuyện này trước tiên là cho tôi. Nhưng cũng là cho các bạn để tạm xem như “mua vui cũng được một vài trống canh”.

Hẹp gặp lại các bạn tuần sau ở New York.

0 Comments:

Post a Comment

Subscribe to Post Comments [Atom]

<< Home